Bám làng “gieo chữ” dưới chân núi Ngọc Linh

35

10/11/2021 06:03

Vì tình yêu nghề, vì sự nghiệp trồng người, những thầy cô giáo cần mẫn, tận tụy không quản khó khăn, cống hiến tuổi xuân, sức lực và trí tuệ để “ươm mầm”cho những ước mơ của trẻ em ở vùng khó nằm dưới chân núi Ngọc Linh hùng vĩ.

Nhọc nhằn đường lên điểm trường

Mường Hoong là xã vùng sâu khó khăn nhất của Đăk Glei, cách trung tâm thành phố Kon Tum gần 200km. Xã có 10 thôn thì có đến 5 thôn là Đăk Bối, Ngọc Lâng, Xa Úa, Mô Po và Tu Răng không có đường bê tông đến thôn. Bà con đồng bào dân tộc ngôi làng này định cư ở tít tắp lưng chừng núi, vì vậy, để đến được làng là rất vất vả gian nan.

Theo chân thầy giáo Nguyễn Văn Bê – Hiệu phó Trường Tiểu học Mường Hoong, chúng tôi tìm về các thôn Tu Răng, Ngọc Lâng, Xa Úa – cách trung tâm xã khoảng 4km, nằm giữa lưng chừng núi Ngọc Linh. Không có đường lên thôn, chiếc xe máy chỉ đi được vài trăm mét, chúng tôi phải bỏ xe lại bên bìa rừng rồi “cuốc bộ”. Con đường lên thôn thật gian khổ, dốc dài dựng đứng tưởng chừng muốn ngửa người khi lên và đầu đi trước chân khi xuống dốc. “Thế này chưa thấm vào đâu nhà báo. Vẫn còn vài con dốc cao hơn thế nữa mới tới được các thôn. Hôm nay trời nắng nên đi còn thuận lợi đó, nếu trời mưa, việc đi lại còn vất vả gấp mấy lần thế này. Đường trơn trượt, lại rất nguy hiểm, nhất là khi phải lội qua những con suối nước chảy ầm ầm” – thầy Bê nói.


Nhọc nhằn đường lên điểm trường ở Mường Hoong. Ảnh: VP

 

Gần một tiếng “cuốc bộ” leo qua mấy ngọn núi, băng qua vài con suối chúng tôi mới đến được điểm trường làng Tu Răng. Đứng trên đỉnh dốc, nhìn về phía dưới, người chỉ như con kiến. Ấy vậy mà tuần nào cũng vậy, cứ đầu tuần đi lên, cuối tuần về lại trường, có tuần nhà trường có việc thì cũng phải vài vòng như vậy đối với cô giáo Hoàng Thị Ngọc – giáo viên bám làng Tu Răng – Trường Tiểu học Mường Hoong. 4 năm công tác, cũng ngần ấy năm cô Ngọc bám làng, bám lớp tại điểm trường thôn. Ngần ấy năm, Ngọc đã đi mòn trên con đường này. Do đường sá khó khăn, giáo viên phải trụ lại cắm làng, làm “công dân” của làng.

Tương tự như ở thôn Tu Răng, đường đến điểm trường thôn Ngọc Lâng, Xa Úa, Đăk Bối cũng vô cùng khó khăn. Hàng ngày đội ngũ giáo viên cắm làng ở đây vượt qua hàng chục con dốc dựng đứng mất từ một đến hai giờ đi bộ mới đến được điểm trường. Mùa nắng đi đã vất vả, mùa mưa lại càng cực khổ hơn bởi đường đất trơn trượt, dốc dài dựng đứng.

Thầy Đinh Văn Sáng – giáo viên cắm làng tại thôn xa nhất Đăk Bối chia sẻ: Để đến được làng, tôi phải đi bộ gần 2 tiếng. Đường đi vô cùng khó khăn, dốc cao, mùa mưa, chúng tôi phải dùng chiếc gậy để chống mới leo được qua các con dốc. Ấy vậy, tôi vẫn bị ngã thường xuyên, đến nay, tôi cũng không nhớ nổi có bao lần trượt ngã, người và đồ lấm lem bùn đất. Gần 3 năm nay, ít nhất, mỗi tuần tôi cũng phải 4 lượt lên xuống trên con đường đến làng. Dù vất vả, nhưng vì thương các em học trò khó khăn nên chúng tôi đều cố gắng hết mình, chưa bao giờ tôi nản lòng và muốn bỏ về.

“Thương học sinh như con”

Đến thôn Tu Răng, hình ảnh đập vào mắt chúng tôi là vài chục nóc nhà nằm giữa núi rừng Ngọc Linh hùng vĩ. Ở đây chỉ duy nhất có lớp học đặc biệt – lớp ghép 1+2 với hơn 10 học sinh. Nữ giáo viên Huỳnh Thị Ngọc một mình ngày đêm bám trường, bám lớp, ăn ở ngay tại thôn.

Cô Ngọc đã có chồng và một con (năm nay 5 tuổi), nhà ở tỉnh Gia Lai. Xa chồng, xa con nhiều khi cô cũng thấy chạnh lòng, vì thương con thiếu thốn vòng tay âu yếm của người mẹ.

Vì đường xa phải ở lại thôn nên cô giáo Ngọc tận dụng một căn phòng nhỏ ngay cạnh lớp học để ở. Với Ngọc, ban ngày có học sinh, được nhìn thấy học trò cũng đang ở tuổi như con mình nên cũng vơi đi nỗi nhớ con. Thế nhưng đêm về, một mình lủi thủi, không có tivi, sóng điện thoại thì yếu, nỗi nhớ con, chồng da diết. Khi sóng chập chờn, không gọi được, Ngọc chỉ biết mang những tấm hình, thước phim quay về con trong điện thoại nhìn, ngắm cho đỡ nhớ. Trong căn phòng nhỏ của Ngọc, do sóng wifi yếu, cả phòng, chỉ có duy nhất ở ô cửa sổ là có tí sóng nhưng cũng chập chờn. Vì vậy, tại vị trí này, Ngọc phải dùng chiếc dây cột lại để treo chiếc điện thoại. Mỗi lần gọi cho con bằng video, cô Ngọc phải ngồi sát cửa, bật lớn chiếc loa mới ngồi nói chuyện, tâm sự cùng chồng con được. Tuy nhiên, do sóng yếu nên gọi lúc được lúc mất.


Đây là vị trí duy nhất có sóng điện thoại trong căn phòng ở cô Ngọc ở làng Tu Răng. Ảnh: VP

 

Không chỉ vậy, ở đây khó khăn đủ thứ, do không có tủ lạnh nên đồ ăn chủ yếu là cá khô. Nếu muốn ăn thịt, từ đầu tuần, Ngọc mua mang lên kho một nồi ăn từ thứ 2 đến thứ 6. Đến cuối tuần xuống trường rồi mua tiếp về cho tuần sau. Căn bếp sát phòng được ghép tạm những tấm tôn thủng lỗ chỗ, mùa mưa, kèm gió to muốn nhóm củi nấu cơm rất vất vả, gian khó.

Cô Ngọc chia sẻ: Dù khó khăn nhưng bù lại những học sinh nơi đây rất dễ thương lại ham học và mến cô giáo nên đã tiếp tôi thêm động lực để cống hiến. Nhìn thấy các em chỉ trạc như con mình mà đã phải vất vả đi bộ hàng cây số để đến trường học con chữ nên tôi thấy thương các em như chính con mình.

“Đặc biệt, ở đây bà con rất tình cảm, quý mến giáo viên. Dù còn nhiều khó khăn nhưng hàng tháng, tôi đều được phụ huynh cho gạo, rau xanh để ăn. Chính những tình cảm của phụ huynh, học sinh làm tôi thêm tình yêu và gắn bó với nghề” – cô Ngọc chia sẻ.

Xa chồng, thương con bao nhiêu thì Ngọc lại thương các học trò nghèo bấy nhiêu. Nhiều khi thấy mùa lạnh, các em không có áo ấm, cô giáo Ngọc lại bỏ tiền túi mua áo cho học trò.

Trước đây, cứ mỗi tháng, Ngọc lại bố trí về thăm con một lần nhưng kể từ tháng 8 đến nay đã gần 4 tháng, vì dịch bệnh, Ngọc chưa về thăm con, thăm chồng được. 

Khi hỏi về nỗi nhớ con, Ngọc đã không cầm được nước mắt. Dù vậy, cầm chiếc điện thoại gọi cho con cô cố dằn lòng: Con đang làm gì thế, con nhớ mẹ không? Hôm nay, bố cho con ăn gì? Con ở nhà ngoan nhé, hết dịch mẹ sẽ về với con, chở con đi mua bóng bay, mua socola và những gì con thích nhé. Mẹ yêu con. 

Khát vọng cống hiến

Với các giáo viên cắm bản ở Mường Hoong, khó khăn nhất là đường sá đi lại và trở ngại về ngôn ngữ, cũng như việc duy trì sĩ số học sinh, vì thế việc bám làng bám lớp thường được những thầy cô giáo trẻ xung phong. Họ đang ở lứa tuổi sung sức, hơn nữa vì tình yêu nghề, họ khát khao được cống hiến.

Tại điểm trường thôn Ngọc Lâng, có 5 lớp (từ lớp 1 đến lớp 5) với 111 học sinh. Đây cũng là một trong những điểm trường xa nhất của Mường Hoong. Vì vậy, tại đây cả 5 năm thầy cô giáo bám trường, bám lớp đều là giáo viên trẻ. Đơn cử như cô giáo Trịnh Thị Ngọc, mới ra trường, vào nhận công tác tại Mường Hoong, cô xung phong lên điểm trường Ngọc Lâng. Thầy giáo trẻ Nguyễn Huy Hoàng (quê ở Hà Tĩnh,) sau khi đỗ viên chức được phân về Trường Tiểu học Mường Hoong nhưng thầy xung phong lên điểm trường Ngọc Lâng để được rèn luyện và cống hiến.  


Cô Ngọc và lớp ghép tại làng Tu Răng. Ảnh: V.P

 

Hay trường hợp của cô giáo Phạm Thị Như Quỳnh (quê ở Nghệ An), trong 5 năm gắn bó nghề, cô Quỳnh đều xung phong đi dạy ở điểm trường thôn. Đến nay, cô Quỳnh đã dạy ở 3/5 điểm trường khó nhất là Tu Răng, Mô Po và Ngọc Lâng.

Cô Phạm Thị Như Quỳnh tâm sự: Dạy học tại điểm trường thôn khá vất vả, không chỉ việc đi lại rất khó khăn mà trong cuộc sống, sinh hoạt mọi thứ đều thiếu thốn, nhưng bằng tình yêu nghề và nhiệt huyết của tuổi trẻ, chúng em không ngại khó, ngại khổ miễn sao là được đóng góp chút sức trẻ, kiến thức để truyền dạy, giúp con em đồng bào mình biết con chữ, từ đó nuôi ước mơ, xây đắp cho tương lai. 

Con đường đi tìm con chữ của học sinh vùng sâu dưới chân núi Ngọc Linh còn nhiều gian nan vất vả. Nhưng tôi tin rằng, với tình yêu nghề và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ của những giáo viên bám làng và đội ngũ giáo viên ở Mường Hoong, nhất là “khi đã yêu nghề, mến học trò, xem học trò như con thì dù khó khăn đến mấy cũng sẽ vượt qua”.

Văn Phương


Nguồn bài viết:
http://baokontum.com.vn/ghi-chep-phong-su/bam-lang-gieo-chu-duoi-chan-nui-ngoc-linh-21340.html